Từ năm 2010 trở lại đây, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có 562 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 786 km. Trong đó có 40 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm (sạt lở gây nguy hiểm trực tiếp đến an toàn đê điều, khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng), tổng chiều dài 131km. Bao gồm, bờ sông 21 điểm với tổng chiều dài 37 km, bờ biển 19 điểm với tổng chiều dài 94 km.

Theo số liệu cung cấp của Tổng Cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) từ năm 2010 trở về trước, vùng ĐBSCL thường xuyên xảy ra hiện tượng sạt lở, tại một số khu vực đã ghi nhận những thiệt hại do sạt lở gây ra, nhất là những khu vực tập trung dân cư như: TX Tân Châu, TP. Long Xuyên (An Giang); TX Hồng Ngự; TP. Sa Đéc (Đồng Tháp); TP. Vĩnh Long (Vĩnh Long). Tuy nhiên, xu thế chung là ổn định, không gia tăng quá mức; vùng ven biển có xu thế bồi là chính.

Sat lo
Sạt lở xảy ra phổ biến ở ĐBSCL. Ảnh minh họa: TTXVN

ĐBSCL mất 300 ha đất mỗi năm

Con số này được Bộ NN&PTNT công bố tại Hội nghị phát triển bền vững ĐBSCL diễn ra cuối tháng 9 vừa qua tại Cần Thơ.

Theo Bộ NN&PTNT, có 3 guyên nhân gây ra tình trạng sạt lở trên: Do xây dựng hồ chứa; Khai thác cát; Phát triển dân số và cơ sở hạ tầng.

Trong 3 nhóm nguyên nhân mà Bộ NN&PTNT liệt kê ở trên, xây dựng hồ chứa và khai thác cát trên lưu vực sông Mê Kông được kể đến hàng đầu. Việc sạt lở ở ĐBSCL đang ở mức báo động là bởi việc xây dựng hồ chứa và khai thác cát cũng đang ở mức báo động về ngưỡng an toàn cho toàn lưu vực sông Mê Kông.

Trên dòng chính sông Mê Kông thuộc lãnh thổ Trung Quốc, Lào và Campuchia đã, đang và dự kiến xây dựng 19 hồ chứa. Trong đó, đã hoàn thành xây dựng 6 hồ chứa (Trung Quốc); đang xây dựng 04 hồ chứa (02 tại Trung Quốc và 02 thuộc Lào), chuẩn bị xây dựng 01 hồ chứa (Pắc-Beng, thuộc Lào). Trên các dòng nhánh sông Mê Kông đã thực hiện và có kế hoạch xây dựng tổng số 142 hồ chứa, trong đó Thái Lai đã hoàn thành 100%, Việt Nam đã hoàn thành 96%.

Kết quả phân tích ảnh hưởng của việc xây dựng các hồ chứa thượng nguồn sông Mê Kông cho thấy, việc xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn đã, đang và sẽ làm gia tăng các biến động bùn cát (với tốc độ khoảng 5%/năm từ năm 2012 trở lại đây) trên các tuyến sông và vùng ven biển, là những nguyên nhân cơ bản gây mất ổn định lòng, bờ sông và xâm thực bờ biển.

Về khai thác cát, trong những năm gần đây, hoạt động này diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các quốc gia trên lưu vực sông Mê Kông, đặc biệt ở hạ lưu vực với lượng khai thác tương đương với lượng bùn cát tự nhiên. Việc khai thác cát quá mức đã làm lòng sông bị hạ thấp, dẫn đến cao độ mực nước về mùa kiệt trên các tuyến sông bị giảm; thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy tại các phân lưu, hợp lưu ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định bờ sông, bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn ven biển.

Bên cạnh đóphát triển dân số và cơ sở hạ tầng, tác động của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, lũ lụt, lún sụt đất…, cũng là các nguyên nhân cộng hưởng gây nên tình trạng sạt lở trên toàn vùng như hiện nay.

Bốn định hướng

Thực tế, dù đã chi hàng chục ngàn tỷ đồng cho việc chống sạt lở, song đây vẫn là thách thức hiện hữu ở ĐBSCL. Bộ NN&PTNT đưa ra 4 định hướng chống sạt lở kỳ vọng sẽ sớm giải quyết một cách căn cơ thách thức này.

Theo đó, cần giải quyết hiệu quả vấn đề mất cân bằng bùn cát trên sông, kênh rạch và vùng ven biển, lún sụt đất; Tăng cường công tác quản lý bờ sông, kênh, rạch, bờ biển giảm tác động gây xói lở theo hướng quản lý tổng hợp, dành không gian thoát lũ, làm đường giao thông, đắp đê (dự kiến); Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng chống sạt lở bờ sông, kênh rạch; xói lở bờ biển, lún sụt đất, trồng và phục hồi rừng ngập mặn thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh; Quan trắc, cập nhật cơ sở dữ liệu về sạt lở bờ sông, kênh, rạch, xói lở bờ biển; lún, sụt đất; thủy hải, văn.

Theo định hướng này, hàng loạt các giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế với các nước thượng nguồn Mê Kông; quản lý chặt chẽ việc khai thác, sử dụng cát; quy hoạch bố trí dân cư; các biện pháp thủy lợi; trồng rừng ngập mặn, tăng cường nghiên cứu khoa học cần được thực hiện một cách đồng bộ.

Sự ra đời của Ngày Quốc tế phòng chống và giảm nhẹ thiên tai (13/10): Ngày 22/12/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã lấy ngày thứ 4, tuần thứ hai của tháng 10 làm Ngày Quốc tế giảm nhẹ thiên tai với tư cách là một phần của tuyên bố về Thập kỷ Quốc tế Giảm nhẹ Thiên tai (theo nghị quyết số 44/236).

Năm 2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã quyết định duy trì việc tổ chức ngày này hàng năm như một phương tiện để thúc đẩy văn hóa toàn cầu về giảm nhẹ thiên tai, trong đó có giảm thiểu và phòng ngừa. Vào năm 2009,thông qua Nghị quyết 64/200, Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định lấy ngày 13 tháng 10 làm ngày Quốc tế giảm nhẹ thiên tai chính thức.

 Ngày13/10, Ngày Quốc tế Giảm nhẹ Thiên tai (IDDR) ra đời nhằm khuyến khích mọi công dân và chính phủ tham gia xây dựng cộng đồng và đất nước có khả năng chống chọi thiên tai tốt hơn, giúp tăng nhận thức về những loại thiên tai có thể xảy ra tại cộng đồng và tìm những cách thức để chuẩn bị tốt hơn trước thiên tai  để giảm nhẹ rủi ro thiên tai. 

Hàng năm, chủ đề Ngày Quốc tế giảm nhẹ thiên tai khác nhau và được Liên hợp quốc xác định, tập trung vào một chủ đề thiên tai và điều phối các nỗ lực hành động để thực hiện những sự cải thiện trong khu vực.

N.Hà /